Đơn phương ly hôn theo quy định pháp luật

Ngày đăng : 08/23/2016 Lượt xem : 166

1. Quy định về Đơn phương ly hôn

Theo quy định tại Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn”

Và tại Khoản 1 điều 56 về Ly hôn theo yêu cầu của một bên thì: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

ly hôn2. Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

 - Đơn khởi kiện ly hôn (đơn phương);

 - Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

 - Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

 - Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

 - Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

 - Bản sao giấy khai sinh của con.

 3. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

 - Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của chồng là tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ đang cư trú.

 - Trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của vợ (bị đơn) thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại điểm a, khoản 1, Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011. Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc,có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”.
Tại điểm a, khoản 1, Điều 33 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Nên trường hợp này người chồng nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị vợ cư trú, làm việc cuối cùng.

 - Lưu ý rằng, theo quy định của Điều 52 Bộ luật dân sự 2005, thì  “1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. 2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 52 BLDS) thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.

 - Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguyên đơn có nghĩa vụ “cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Do đó nguyên đơn cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nơi cư trú cuối cùng của chị vợ cho Tòa án.

 4. Vấn đề nuôi con sau khi ly hôn

 Theo quy định tại Khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì: "Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."

 Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

 5. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:

 Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình quy định: "Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định tại Luật Hôn nhân gia đình 2014, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan."

Ngoài ra tại điều 82 Luật HNGĐ 2014 quy định:

"...Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."
  6. Về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn

 Luật Hôn nhân gia đình cũng quy định:

 “Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

 Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà Tòa án quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý. Phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng”

 

Mọi tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ: 

Luật Tín Đức - 7K4, Phùng Chí Kiên, P.7, TP. Vũng Tàu

SĐT: 0916 211 285

Email: luattinduc@gmail.com

Bài viết cùng chủ đề: