Không cứu giúp người bị tai nạn giao thông đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Ngày đăng : 07/26/2017 Lượt xem : 181

>>>> Luật sư tư vấn: 0916 211 285

Theo quy định của Luật giao thông đường bộ, khi lưu thông trên đường gặp người bị tai nạn giao thông đang gặp nguy hiểm mà không cứu thì sẽ bị xử lý như thế nào?
Trên thực tế, để xác định căn cứ pháp lý 01 người vi phạm tội này rất khó khăn phải không?

Đây là hành vi vi phạm pháp luật bị nghiêm cấm, được quy định tại khoản 17, 18 Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008 có hiệu lực từ ngày 01/7/2009.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

  1. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.
  2. Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông.

Luật Giao thông đường bộ cũng quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 38:

hình minh họa

Điều 38. Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông

1. Người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:

a) Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;

b) Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi   cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;

c) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền.

2. Những người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:

a) Bảo vệ hiện trường;

b) Giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị nạn;

c) Báo tin ngay cho cơ quan công an, y tế hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất;

d) Bảo vệ tài sản của người bị nạn;

đ) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

3. Người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu. Các xe được quyền ưu tiên, xe chở người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự không bắt buộc thực hiện quy định tại khoản này.

4. Cơ quan công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có trách nhiệm cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn.

5. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra tai nạn có trách nhiệm kịp thời thông báo cho cơ quan công an, y tế đến để xử lý, giải quyết vụ tai nạn; tổ chức cứu chữa, giúp đỡ người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn; trường hợp có người chết mà không rõ tung tích, không có thân nhân hoặc thân nhân không có khả năng chôn cất thì sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã hoàn tất các công việc theo quy định của pháp luật và đồng ý cho chôn cất, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức chôn cất.

Trường hợp vụ tai nạn vượt quá khả năng giải quyết, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp trên.

6. Bộ Công an có trách nhiệm thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về tai nạn giao thông đường bộ, cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, hành vi này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 102 Bộ luật hình sự  1999 có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2000 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực ngày 01/01/2010.

Điều 102. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

1. Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;

b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp;

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Luật giao thông đường bộ, Bộ luật hình sự đã quy định rất rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế, để xác định căn cứ pháp lý 01 người vi phạm tội này rất khó khăn, bởi lẽ để xác minh ai là người vi phạm, phạm tội này thì việc chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng (Công An, Viện Kiểm Sát, Tòa Án), mà ở Việt Nam hiện nay chưa có hệ thống camera trên khắp các nẻo đường để ghi lại sự việc đó nên việc chứng minh hành vi phạm tội này là cực kỳ khó và để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này thì cần phải xem xét kỹ xem có hay không có điều kiện để cứu giúp người nguy kịch. Và trên thực tế, hiếm ai bị truy cứu TNHS về tội này liên quan đến tai nạn giao thông.

Bài viết nhằm mục đích tham khảo, mọi tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

LUẬT TÍN ĐỨC

7K4 TTTM, Phùng Chí Kiên, P.7, TP. Vũng Tàu

Gọi số: 0916211285 để gặp trực tiếp Luật sư

Gửi email: luattinduc@gmail.com hoặc bichthuan@luattinduc.com

 

Bài viết cùng chủ đề: