Từ bỏ việc khởi kiện và rút đơn yêu cầu khởi kiện ?

Ngày đăng : 08/23/2016 Lượt xem : 232

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 của Quốc hội

Bộ luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội

 

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, từ bỏ việc khởi kiện và rút yêu cầu khởi kiện xuất phát từ phía nguyên đơn. Cụ thể:

“Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. 
Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau: 

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn; 

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ; 

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập có người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn; 

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

"Điều 192. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;[...]" 

Qua quy định nêu trên có thể thấy sự khác biệt cơ bản giữa từ bỏ việc khởi kiện và rút đơn yêu cầu khởi kiện là:

  • Từ bỏ việc khởi kiện là do Tòa án nhận định dựa trên sự có mặt hay không có mặt của nguyên đơn tại phiên tòa. Còn việc rút đơn khởi kiện là do sự chủ động của nguyên đơn.
  • Hậu quả pháp lý đều như nhau : Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ. Họ vẫn có quyền khởi kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

    Mọi chi tiết xin liên hệ:
    LUẬT TÍN ĐỨC - 7K4 Phùng Chí Kiên, P.7, Tp. Vũng Tàu
  • ĐT: 0916 211 285
  • Email: luattinduc@gmail.com     -     Email: luattinduc.com

Bài viết cùng chủ đề: